TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
XUẤT BẢN 2 THÁNG 1 KỲ (RA VÀO THÁNG CHẴN)
Tổng biên tập:
Nguyễn Đình Thuận
Phó Tổng biên tập:
Nguyễn Văn Tiến
Trụ sở:
Số 26 đường Hà Nội, TP Huế
ĐT/FAX: 054.3837900
E-mail: tc.nghiencuuphattrien@gmail.com
Giấy phép xuất bản:
Số 691/GP-BVHTT,
ngày 28 tháng 12 năm 2001
do Bộ Văn hóa-Thông tin cấp.
Phát hành:
- Qua bưu điện, mã số phát hành: C937
- Các nhà sách:
Nhà sách Tạp chí Xưa và Nay,
số 181 Đề Thám,
Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Nhà sách Hà Nội,
số 245 Nguyễn Thị Minh Khai,
Quận 1, TP Hồ Chí Minh
- Sở Khoa học và Công nghệ TTH,
số 26 đường Hà Nội, TP Huế.
- Quầy sách báo, Bưu điện trung tâm Huế
Tài khoản số:
4211 01 100 014
Tại CNNH Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Thừa Thiên Huế.
Giá: 20.000 đồng/cuốn
VĂN HÓA - LỊCH SỬ
TÓM TẮT
VĂN HÓA VÀ LỐI SỐNG ĐÔ THỊ HUẾ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Nguyễn Văn Mạnh
Từ việc phân tích những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa Huế, tác giả bàn đến những yếu tố cần được tập trung thực hiện trong quá trình đô thị hóa Huế.
- Về quy hoạch đô thị ở thành phố Huế, nên chia thành 6 tiểu vùng, với những định hướng phát triển không gian và các lãnh vực cụ thể cho từng tiểu vùng.
- Cần đẩy mạnh quá trình thị dân hóa, công nhân hóa thông qua việc mở mang phát triển kinh tế để tập trung nguồn lực lao động.
- Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển đô thị hiện đại.
- Tìm cách phát huy những mặt ưu điểm, hạn chế những mặt khuyết điểm trong lối sống đô thị của con người xứ Huế.
TỤC ĂN TRẦU Ở VIỆT NAM XƯA VÀ NAY (Tiếp theo)
Nguyễn Xuân Hiển
TÓM TẮT
Dựa vào kết quả điều tra tại chỗ trong các năm 2002-2004 và 2006-2008 cùng các tài liệu liên quan, tác giả đã trình bày và thảo luận về tục ăn trầu ở Việt Nam từ thời đại Kim khí tới năm 2008. Những số liệu định lượng có được từ đầu thế kỷ XX cho biết diện tích trồng trầu cau đã giảm nhiều nhưng từ những năm 1960 đến nay số người ăn trầu có vẻ vẫn ổn định: chừng 10% những bà già trên 55 tuổi còn tiếp tục ăn trầu. Têm trầu là một đặc thù của tục ăn trầu Việt Nam và ngay từ 1885 một người Pháp, A. Landes đã gọi đó là một nghệ thuật lớn. Tác giả cho rằng có cách têm trầu truyền thống, cổ điển và cách têm trầu hiện đại (trầu cánh phượng với nhiều biến thể). Chỉ người Việt mới têm trầu một cách cẩn thận và khéo léo.
VỀ YẾU TỐ NƯỚC TRONG LỄ HỘI OK-OM-BOK CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Lê Công Lý
TÓM TẮT
Ok-om-bok là lễ hội lớn của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 âm lịch hàng năm, thời điểm vừa thu hoạch xong vụ lúa mùa và là cao điểm của mùa nước nổi trong năm. Ngoài phần lễ chính thức Ok-om-bok (đút cốm dẹp) còn có phần hội đua ghe Ngo kèm theo lễ thả đèn nước, đèn gió và các hoạt động vui chơi giải trí khác như múa lăm-thol, múa xà-dăm, diễn tuồng rô-băm, dù-kê và hát à-day. Ngoài hội đua ghe Ngo phải tổ chức ban ngày, hầu hết các nghi thức của lễ hội Ok-om-bok đều diễn ra ban đêm. Tổng hợp các yếu tố "ban đêm", "nước lớn", "trăng tròn" có ý nghĩa nhấn mạnh yếu tố "âm tính" nhằm cảm tạ thần nước đã phò trợ cho mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi và đưa tiễn nước trở lại về nguồn (biển). Vì nước được người Khmer hình tượng hóa thành mặt trăng nên lễ hội Ok-om-bok cũng được gọi là lễ cúng Bund Thvai-pres-khe.
LUÂN LÝ NHO GIÁO TRONG KINH THẾ ĐẠO CAO ĐÀI
Huệ Khải
TÓM TẮT
Một trong những tiêu ngữ của đạo Cao Đài là Nho tông chuyển thế, do đó thánh giáo và kinh lễ Cao Đài hầu như luôn luôn chuyển tải luân lý Nho giáo. Luân lý Nho giáo chia các mối quan hệ đạo đức của con người sống trong xã hội thành năm nhóm chủ yếu, gọi là Ngũ luân. Theo Trung dung (chương 20:2), Ngũ luân gồm có quân thần, phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu. Kinh Thế đạo của Cao Đài gồm mười chín bài kinh cầu nguyện viết theo thể thơ song thất lục bát. Tám bài kinh trong số đó để tụng khi có đám tang và một bài dùng vào lễ cưới. Bài viết này cho thấy chín bài kinh ấy phản ánh rõ nét Ngũ luân của đạo Nho.
NGÔN NGỮ TẠO HÌNH TRONG TRANH DÂN GIAN
LÀNG SÌNH - KẾ THỪA VÀ SÁNG TẠO
Trần Sông Lam, Phan Thanh Bình
TÓM TẮT
Tranh làng Sình (tên chữ là làng Lại Ân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) thuộc dòng tranh dân gian đã tồn tại hơn 400 năm qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Đây là dòng tranh phục vụ cho việc thờ cúng với hình tượng mang tính tượng trưng, đường nét, mảng khối và màu sắc đơn giản nhưng thể hiện được nội dung tâm linh sâu sắc.
Tranh dân gian làng Sình mang những yếu tố thẩm mỹ quý giá cần được tiếp thu, kế thừa trong sáng tác tranh hiện đại để tạo ra những giá trị nghệ thuật với chất liệu mới, vừa hiện đại vừa có tính truyền thống dân tộc. Việc nghiên cứu kế thừa nghề in tranh làng Sình không chỉ góp phần làm rạng rỡ sắc màu văn hóa truyền thống xứ Huế mà còn nhấn mạnh vị trí trân trọng của dòng tranh này trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
THỬ NHẬN XÉT VỀ "AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ"
Nguyễn Đình Đầu
TÓM TẮT
An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục J.L. Taberd soạn vẽ và xuất bản vào năm 1838. So với các bản đồ Việt Nam đương thời, công trình của Taberd có những điểm đặc sắc sau:
- Cho đến thời điểm 1838, nước ta chưa có một bản đồ nào vẽ theo phương pháp bản đồ học của Tây phương, ghi chép khá đầy đủ địa danh và được in khổ lớn (40x80cm) như An Nam đại quốc họa đồ.
- Địa danh trên bản đồ được ghi bằng chữ quốc ngữ hoặc tiếng Latinh, gồm cả địa danh hành chính và tục danh, có thêm những địa danh do người ngoại quốc đặt ra. Việc khảo sát địa danh cho thấy An Nam đại quốc họa đồ đã được tác giả soạn vẽ từ thời Gia Long.
- An Nam đại quốc họa đồ là một tài liệu khách quan, có ý nghĩa đặt biệt quan trọng đối với việc chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông trong lịch sử.
An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd đích thực là một tài liệu giá trị lịch sử mà không một bản đồ đương thời nào sánh kịp.
PHÁT HIỆN THÊM MỘT TỜ CHÂU BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẢO HOÀNG SA
Phan Thuận An
TÓM TẮT
Nội dung của tờ châu bản gốc đề ngày 15 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 13 (3/2/1939) là một tờ phiến do Ngự Tiền Văn Phòng dâng lên Hoàng đế Bảo Đại xin phê chuẩn việc tặng huy chương Long tinh hạng 4 cho viên Chánh cai đội hạng nhất người Pháp tên là Louis Fontan vừa mất vì bệnh sốt mò sau một thời gian cùng đội lính Khố xanh trấn thủ tại đảo Hoàng Sa.
Bản tấu đã được nhà vua chuẩn y. Kèm theo tờ châu bản này còn có bản sao tờ văn thư của Khâm sứ Trung Kỳ đề nghị Ngự Tiền Văn Phòng tâu xin Hoàng đế Bảo Đại truy tặng huy chương cho viên Cai đội Louis Fontan.
Các văn bản này là những chứng cứ quan trọng về sự thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.
KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG
CÀ PHÊ CHỒN
Võ Quang Yến
TÓM TẮT
Cà phê là một thức uống bắt nguồn từ bên nước Ethiopie, lúc đầu được phát triển ở các nước Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ... dần dần phổ biến qua châu Âu, Nam Mỹ, châu Phi, rồi được đem trồng ở châu Á. Hai loại cà phê có tiếng nhất là Coffea arabica và Coffea robusta, loại sau được trồng nhiều ở nước ta. Có nhiều cách pha cà phê nhưng người Ý có những cách pha chế cà phê ngon nhất, từ đấy có nhiều tên espresso, capucinno, frappucino…
Gần đây, trên thị trường còn thấy có một loại cà phê ngon, đắt tiền vì hiếm có, đó là cà phê cứt chồn, pha với nhân hột đã từng được con chồn vòi đốm Paradoxurus hermaphroditus ăn rồi thải ra ngoài. Có tiếng trên thế giới cùng với cà phê chồn Tây Nguyên ở nước ta là cà phê Kopi Luwak bên Nam Dương. Theo GS Massimo Marconi, những enzym tiêu hóa trong dạ dày chồn đã tác dụng lên nhân hột, phân giải những protein sau nầy khi rang tác động với những chất đường và gây ra hương vị mới.
MÔ HÌNH TỔ CHỨC ĐIỀU PHỐI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG
Đỗ Nam, Bùi Thị Mai, Nguyễn Văn Cư
TÓM TẮT
Lưu vực sông Hương đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế. Nó cung cấp nguồn lực tự nhiên cho các ngành kinh tế cơ bản của tỉnh: nước cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt, các loại khoáng sản cho công nghiệp khai khoáng và chế biến, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học. Hơn thế nữa sông Hương - dòng chính trong lưu vực sông Hương - có một đời sống tinh thần sinh động, phong phú, đã đi vào thơ ca nhạc họa, theo dòng chảy của lịch sử làm nên các giá trị khác biệt của lưu vực sông Hương.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã thành lập Ban Quản lý dự án sông Hương từ năm 1996 và giải thể Ban này vào đầu năm 2009. Theo Nghị định về quản lý lưu vực sông của Chính phủ thì một tổ chức điều phối hoạt động quản lý tổng hợp lưu vực sông Hương không còn là nhu cầu riêng lẻ của một địa phương. Đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó, trong bài viết này chúng tôi cung cấp các cơ sở khoa học cho việc thành lập “Văn phòng Điều phối lưu vực sông Hương”. Tài liệu này có thể giúp tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh, thành phố khác có điều kiện tương tự nghiên cứu, thành lập tổ chức điều phối lưu vực các dòng sông chính trong tương lai.
THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở HỆ THỐNG SÔNG Ô LÂU
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Thuận
TÓM TẮT
Hệ thống sông Ô Lâu là hệ sinh thái điển hình đặc trưng cho nhiều dạng thủy vực khác nhau của vùng miền Trung Việt Nam, từ những khe nhỏ trong vùng núi đến vùng cửa sông ven biển. Thành phần loài cá ở hệ thống sông Ô Lâu khá đa dạng. Đã xác định được 109 loài, 76 giống với 31 họ thuộc 11 bộ khác nhau. Số loài phong phú nhất thuộc về bộ cá Chép (Cypriniformes) với 47 loài (chiếm 43,12%). Các họ cá chiếm ưu thế về loài là Cyprinidae (37 loài), Balitoridae (7 loài), Eleotridae (6 loài), Belontidae (6 loài), Gobiidae (5 loài) và Gerridae (4 loài). Sự ưu thế về thành phần loài của bộ cá Chép trong khu hệ thể hiện tính chất nước ngọt điển hình. Đã xác định được 16 loài cá có giá trị kinh tế, 5 loài cá quý hiếm được ghi vào Sách đỏ Việt Nam (2007), cả 5 loài đều được xếp vào bậc VU (Vulnarable) - sẽ nguy cấp và 8 loài cá nuôi nhập nội. Dựa trên quan điểm về sinh thái, có thể chia thành 4 nhóm sinh thái theo độ muối gồm nhóm cá nước ngọt, nhóm cá nước lợ, nhóm cá nước mặn và nhóm cá di cư.
TRAO ĐỔI
SUY NGHĨ THÊM VỀ CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC Ở NAM KỲ NỬA SAU THẾ KỶ XIX
Trần Viết Ngạc
TÓM TẮT
Do tính cách phức tạp của bối cảnh lịch sử Việt Nam cận đại (từ 1858), nhiều ý kiến sai lạc và ngộ nhận của một số nhà nghiên cứu đã tồn tại rất lâu và vẫn còn tiếp tục tồn tại nếu chúng ta không chịu khó gỡ dần. Ví dụ "Dụ Cần vương" của vua Hàm Nghi vẫn được gọi là "Chiếu Cần vương", "Hàm Nghi đế chiếu", dù là hai chữ mở đầu văn bản này ở các tài liệu gốc đã là chứng cứ cải chính hùng hồn.
Trong bài viết ngắn này, tác giả kiểm chứng lại hai sự kiện "Trương Định đề cờ" và bài thơ "Ngự chế" (sic) được nhiều người cho là của vua Tự Đức. Cuối cùng tác giả khẳng định các cuộc chiến đấu của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực ở Nam Kỳ nửa sau thế kỷ XIX "là để giúp đỡ cho trào đình".
CỔ VẬT VIỆT NAM
CỔ THƯ BẰNG ĐỒNG THỜI NGUYỄN
Nguyễn Thị Hồng Dung
TÓM TẮT
Triều Nguyễn vốn trọng Nho giáo nên rất chú trọng đến việc phong chức tước, ngôi vị cho các hoàng thân, công chúa, cung phi... Tùy thời điểm sắc phong, tùy tước vị lớn nhỏ mà người được sắc phong sẽ được ban cấp cho một cuốn kim sách, ngân sách, đồng sách, thể sách hoặc chỉ sách.
Sách phong bằng đồng vốn đã có ở nước ta dưới triều Lê, nhưng dưới triều Nguyễn, nó xuất hiện lần đầu vào năm 1858 đời vua Tự Đức. Lúc đầu sách đồng dùng để cải cấp thay cho sách bạc, sau dùng để truy phong và sắc phong.
Thông qua việc tìm hiểu 5 cuốn sách phong bằng đồng còn lưu giữ được ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, người đọc có thể hình dung ra những cuốn kim sách, ngân sách quý giá thời Nguyễn nay đã không còn tồn tại nữa.
CHỈ DỤ-NGỰ BÚT CỦA VUA MINH MẠNG
Lê Thị Toán, Vĩnh Cao
TÓM TẮT
Bài viết giới thiệu chỉ dụ-ngự bút của vua Minh Mạng, được ban vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822). Đây là một chỉ dụ quý hiếm không chỉ vì do tự tay vua Minh Mạng viết, mà nó còn là một trong số rất ít văn bản thuộc loại chiếu chỉ của các vua triều Nguyễn ban hành còn lại đến ngày nay. Nội dung của chỉ dụ ban thưởng cho các quan binh đã vất vả hộ giá khi vua rước Hoàng Thái hậu lên yết lăng Thiên Thụ (lăng vua Gia Long). Dấu ấn triện đóng trên chỉ dụ khắc bốn chữ Ngự tiền chi bảo, dấu ấn triện này thường được đóng trên các bản phiến, tấu, chỉ dụ, chúng tôi chưa tìm thấy dấu triện này đóng trên các sắc phong.
Chúng tôi giới thiệu chỉ dụ này để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về ấn triện cũng như những văn bản được ban hành dưới thời các vua nhà Nguyễn.
TÌM HIỂU CỔ VẬT ĐỒNG BẰNG CỬU LONG (Tiếp theo)
Phạm Hy Tùng Bách
PHẦN III: CỔ VẬT CHẠM, KHẮC
Bài 9: TƯỢNG PHẬT, TƯỢNG THẦN LINH VÀ CỔ VẬT CÓ MINH VĂN BẰNG CÁC CHẤT LIỆU KHÁC NHAU
TÓM TẮT
Trong bài viết này tác giả công bố một số hiện vật chưa tài liệu nào nói đến, qua đó chứng minh một số nội dung sau:
- Đồng bằng Cửu Long xưa lưu giữ nhiều tượng Phật, tượng thần linh làm bằng các chất liệu khác nhau như đá, kim loại, đất không nung và nhựa cây trộn với phụ gia chưa xác định được, hơn hẳn các nơi khác trong toàn vùng Đông Nam Á.
- Vùng đất này lưu giữ nhiều cổ vật chạm khắc nhiều loại văn tự khác nhau.
- Sự đan xen giữa văn hóa Sa Huỳnh với văn hóa Óc Eo là rất chặt chẽ, rõ nét và diễn ra từ trước Công nguyên.